Thượng Đế là ai? (phần 2)

Nguyễn Hoàng ĐứcÝ hướng tính văn chương, NXB Văn hóa dân tộc
09:34' SA - Thứ sáu, 19/12/2008

9. THỰC TẠI VÀ LÝ TƯỞNG I

Thượng Đế, liệu Ngài có thật ?

Câu hỏi này dẫn chúng ta vào một ngõ cụt của địa hạt thực tại. Bởi lẽ, Thượng Đế, Ngài đã vô hình vô ảnh tuyệt đối trong đời sống khả giác của chúng ta, thì làm sao có thể dùng chút mẹo vặt để gài đính Ngài vào cái mắc của thực tại. Tuy nhiên, nếu cuộc đời chẳng có nổi một chút hơi thở của Thượng Đế khiến lớp băng thực tại được sưởi ấm chút nào, thì Thượng Đế có tự biện chính nổi cho sự hiện diện chính đáng của Ngài trong linh hồn chúng ta chăng?

Vậy Ngài có mặt ở đâu? Thực tại hay lý tưởng? Sự minh chứng của tôi sẽ nhằm đến hình ảnh của Ngài trùm bóng lên tương quan giữa thực tại và lý tưởng. Để có hình ảnh bé mọn liên đới về điểm này, bạn hãy tự hỏi : có bao giờ mình có quan hệ với bức tranh không? Nếu có thì nằm ở đâu? Nó có nằm rải rác dọc con đường từ tâm hồn bạn đến bức tranh không? Và để đặt cho mình một niềm tin có chỗ dựa xác đáng, chúng ta hãy quan sát cuộc hành trình của Hegel: “Tuyệt đối là quá trình tiến hóa của thực tại, và đồng thời là mục tiêu của tiến trình đó” (Sdd ‘Encyclopedia New Catholic’, A1, tr.41).

Tất cả thực tại có phải đều vận động và biến dịch không? Bản chất của vũ trụ là vận động! Đó là sự biến thiên tất yếu của vạn vật, mà các triết gia đã loan báo như cuộc biến dịch hằng hữu khổng lồ, các khoa học gia thì gọi là sự biến động không ngừng, các tôn giáo thì suy niệm như một vòng luân hồi bất tận. Khổng Tử thì xem như một dòng sông đang chảy… Song thực tại biến dịch bởi cái gì và nhắm đến đâu? Hay nó chỉ hoạt động một cách vu vơ? Bạn hãy nhìn ngắm thiên nhiên, cái thiên nhiên mà nhiều nhà khoa học đã nói “thiên nhiên chẳng làm cái gì thừa cả”. Vậy thì thực tại buộc phải nhắm đến một mục đích trong quá trình vận động, giống như một con người nhắm đến lý tưởng mong hoàn thiện những hoạt động của mình, thực tại cũng buộc phải nhắm đến một cái đích lý tưởng nằm ngoài vòng tay của nó. Alexander nói: “Thượng Đế là lý tưởng hơn là thực tại” (God is ideal rather than actual).

Thượng Đế là lý tưởng, song nếu không có thực tại làm sao cái lý tưởng đó được qui chiếu như là lý tưởng, nếu như không có mầu đen thì liệu mầu trắng có được xem như là trắng?

Con người là một thực tại tự thân, và nó luôn luôn lên đường để tìm cách hoàn thiện chính mình. Nhưng cái đích được vạch ra cho tâm thức của con người phải là một điểm xa xăm nhắm tuyệt đích nhãn lực của tâm thức. Và con người càng vĩ đại thì điểm xa xăm đó càng kéo dài mãi thêm khoảng cách vào cõi hư vô. Bởi lẽ con người cũng là một thực tại, nó xây lên lý tưởng về Thượng Đế, một bản mẫu tuyệt đích toàn hảo để nó hướng đến trong vận trình tiến bộ. Bowne nói: “Nhân vị toàn vẹn và toàn hảo chỉ có thể tìm thấy trong hữu thể tuyệt đối và vô hạn” (Sdd ‘Encyclopedia New Catholic’, P11, tr.173).

Thượng Đế không chỉ đóng vai miền đất tuyệt đối cho đôi chân phiêu lưu ham dấn bước của con người. Mà trong đời sống của mình, con người buộc phải tiến hành hàng loạt các giá trị chân lý, luân lý và đạo lý, và muốn làm được việc đó con người không sao tránh khỏi việc thiết lập một bảng giá trị - mà qua đó xã hội có thể tiến hành qui chiếu, soi xét hay phán xử các hoạt động của mình. Vậy bảng giá trị đó là gì? Nó được tạo dựng đến đâu thì đủ? Giả sử có một kẻ đầy ắp chữ nghĩa kêu lên “ta đủ sự thông thái rồi!” ngay tức thời hắn sẽ trở thành một kẻ thiển cận; một người thánh thiện rêu rao với mọi người “ta đã làm quá nhiều việc thiện!” ngay khi đó hắn sẽ trở thành một kẻ hẹp lượng. Kẻ thông thái chỉ thông thái khi hắn cứ khát mãi sự thông thái, kẻ thánh thiện chỉ thánh thiện khi hắn làm mãi sự thánh thiện mà không thấy đủ. Bởi thế tất cả các giá trị khôn ngoan như công lý, cái đẹp, đạo hạnh ở đời đều phải nhân danh một chuẩn mực tuyệt đối, và hành trình của chúng buộc phải tiến đến chuẩn đích đó.

Chuẩn đích tuyệt đó là gì? Khi ta đặt câu hỏi đó lập tức Chúa Trời hiện ra, vì chỉ có Ngài, mình Ngài mới đủ toàn năng để trả lời câu hỏi đó: “Thượng Đế là một nhân vị mà toàn bộ chân lý của luân lý và đức hạnh được rút tỉa ra từ cái toàn hảo” ('Encyclopedia New Catholic’, P11, tr.173).

Nếu không có tấm gương toàn hảo của Thượng Đế, làm sao con người có thể soi nhìn lầm lỗi của mình, và không nhìn ra khuyết tật của mình, thì làm sao có thể bồi đắp mình trở nên toàn hảo thánh thiện hơn? Thượng Đế thật cần thiết cho con người có được tấm gương phản tỉnh chính mình, Kierkegaard nói: “Trước Thượng Đế tất cả chúng ta đều sai lầm”.

Thượng Đế là một tấm gương khiến chúng ta nhận chân sự sai lầm! Điều này có thể khiến các dân tộc văn minh hoặc một số mái đầu cao ngạo cho rằng: Thượng Đế sẽ bị thừa ra và vô ích ở một quốc gia đã có nền pháp lý công minh và hữu hiệu, và ở giữa những con người đã đầy ắp tấm lòng công chính! Theo bạn liệu đã có một quốc gia nào ở trần thế như vậy? Giả sử nếu có quốc gia đó, thì khởi đầu có phải nó buộc phải nhân danh khát vọng công lý của mình để tạo dựng một lề luật nhằm thực thi khát vọng đó. Còn những người công chính nếu họ đã sinh sôi đầy ắp thế giới này, thì liệu một nền pháp lý phán xử - trừng phạt còn có nổi một chỗ đứng ở đời? Còn những chủng tộc ngày nay vẫn còn ngu muội chẳng biết gì đến ánh sáng của pháp chế thì sao? Tội ác ở đó sẽ bị phán xử nhân danh cái gì? Và cuối cùng có pháp lý nào qui định nổi một điều luật ở đó những linh hồn hay những trái tim buộc phải cư xử thân thiết như những người bạn hữu? Nếu không có một Thượng Đế làm sao chúng ta có thể hóa giải tất cả những éo le đó. Dostoievski nói: “Nếu Chúa không hiện hữu, ta có quyền làm bất cứ cái gì”.

10. THỰC TẠI VÀ LÝ TƯỞNG II

Đạo đức của con người xuất phát từ đâu? Có phải từ sự cẩn trọng khi con người thực thi những hành động của mình sao cho nó không gây tai ác cho người khác? Sự cẩn trọng xuất phát từ đâu? Có phải từ sự sợ hãi lầm lạc? Nếu không có Thiên Chúa con người sẽ xóa bỏ mọi sự sợ hãi trước Đấng chí tôn và nhảy lên ngai vàng tuyệt đối xưng hùng xưng bá. Nhưng oái oăm thay cái vóc dáng hữu hạn của mình làm sao có thể làm chủ được cõi tuyệt đối vô biên vô lượng, khi đó để giải tỏa sự bất lực của mình con người sẽ lớn tiếng huênh hoang “ta là thượng đế”, là chủ thể của vũ trụ này.

Và khi nhảy vọt tới cõi tuyệt đối bằng lời rêu rao này con người gieo rắc một bi kịch thống khổ cho mình, bởi vì nó nhầm lẫn giữa ngôn từ và thực tại; và tại cuộc đánh tráo này con người bỏ rơi chân lý để sống trong viễn tưởng huếch lác của mình. Có bi kịch không khi mà con người tuyên ngôn vai trò “thượng đế” của mình trong lúc tự nó “chẳng làm sao cho sợi tóc trên đầu mình trở nên trắng hay đen”, khi mà nó chẳng làm chủ được cơn buồn ngủ cũng như thức tỉnh của mình?

Khi không có Thiên Chúa vai trò độc tôn của con người trở nên cô đơn tuyệt đối, bởi lẽ nó đã triệt phá mảnh đất duy nhất mà linh hồn của nó vẫn hằng hướng về tề tựu. Dostoievski nói: “Nếu không có Thiên Chúa, con người sẽ bị bơ vơ trơ trọi…” Vì không tìm thấy ở nội tâm hoặc bên ngoài một cái gì khả dĩ bíu vào. Trước hết con người sẽ không tìm được lời bào chữa nào cả (Sartre lý giải).

Song Thượng Đế có phải chỉ được xây lên từ miền đất của lý tưởng? Và từ đó chúng ta qui kết rằng Ngài cũng nằm trong thực tại, một thực tại chẳng thể nào ly dị nổi trong cuộc hôn phối vĩnh cửu với lý tưởng? Để tránh sa đà vào miền đất duy tâm luận lý, từ một hướng khác của thực tại, chúng ta hãy quan sát đôi chân trần của Thượng Đế. Sách Phúc Âm có nói: “Xin cám ơn Cha, vì Cha đã dấu sự thật cho những người khôn ngoan và chỉ bày tỏ cho trẻ nhỏ”.

Từ đầu chương đến giờ “cậy mình cậy mẩy” là giới người lớn khả tri, chúng ta đã lặn lội đi tìm Thượng Đế qua những tra vấn luận lý – tri thức; còn các em nhỏ thì sao? Chúng ta hãy nhìn những em bé, khi chúng sợ hãi trong bóng tối hoặc nín thở khi nghe chuyện ma quỉ thì chúng có tự đặt trong đầu chúng câu hỏi: điều đó có đáng tin không? Chắc chắn là không! Chúng sợ hãi một cách tự nhiên, và niềm tin của chúng máu thịt đến mức chúng chẳng cần phải đặt câu hỏi. Thánh Gandhi nói: “Có vô số định nghĩa về Thượng Đế, vì những biểu hiện của Ngài nhiều vô kể. Nhưng tôi chỉ thờ lạy Thượng Đế như là sự thật mà thôi. Tôi chưa gặp được Ngài, nhưng tôi tìm Ngài không ngưng nghỉ.”

Hàng ngày chúng ta hãy đếm xem có bao nhiêu biểu hiện về Thượng Đế: Một đàn chim én bay ngược bão mà không cảm thấy gió, một đàn lươn bò năm nghìn dặm dưới đáy đại dương từ châu Mỹ sang châu Âu mà không bị lạc đường, những con kiến bất chấp lực hút của trái đất bò lên hoặc bò xuống bức tường mà tốc độ chẳng hề thay đổi, một con rắn nhỏ xíu mang hàm lượng chất độc đủ giết chết hàng chục con bò ấy vậy mà nó vẫn thanh thản sống với khối thuốc độc đầy ắp trong máu nó, một bầy ong chẳng cần bầu cử vẫn chọn ra ong chúa, một cô bé thấy được bằng da, một bà già có làn da hút sắt như từ trường… những việc như vậy nhiều không xiết kể. Và nhà bác học vật lý được cả thế giới biết đến qua “Nguyên lý vạn vật hấp dẫn” đã buộc phải gọi tất cả hiện tượng đi ra khỏi qui luật thông thường của vật thể là “Luật áp đặt”. Newton cho rằng: thông thường mọi vật thể vẫn nằm trong chu trình hoạt động của chúng, song khi có một áp lực thống soái ở ngoài chúng áp đặt lên chúng một trật tự - một ý niệm khác, chúng buộc phải tuân theo (bạn hãy hình dung khi bạn là chủ nhân của mọt chiếc tách, chiếc tách ấy theo lệ thường luôn luôn phải nằm cạnh cái ấm để chờ rót nước vào, nhưng một ngày kia vì lý do này nọ, bạn đã mài mực vào chiếc tách đó. Bạn làm được cái việc trái lệ thường đó vì bạn là chủ nhân của chiếc tách).

Quan niệm này của Newton kéo ông lại gần lối lý giải về Thượng Đế, ông cho rằng: Hệ mặt trời không thể là bộ máy duy cơ tự hoạt động bình thường, bởi lẽ cứ giả sử như mặt trời, mặt trăng, trái đất có thể tồn tại trong sự vận động xoay vòng của chúng, thì ai là người sẽ khởi động cho chúng bước “depart” vận động? Bởi vì, tất cả các cỗ máy trên đời đều phải có thời khắc khởi động bằng một lực “ấn nút” do bên ngoài tác động vào.

Về thực tại “Thượng Đế”, Hegel còn đưa ra một luận chứng khác về lịch sử nhằm chứng tỏ: Thượng Đế đã xuất hiện trong lịch sử bằng các sự kiện mà Ngài ra dấu chỉ xuống trần gian. Hegel nói: “Thiên Chúa tự mặc khải trước con người trong lịch sử, lịch sử là nhà hát của Đấng quan phòng”.

Ôi lịch sử! Nó thật bát ngát và bí nhiệm! Bạn hãy ngắm nó, và sẽ chẳng thể nào lý giải được tại sao lại có nhiều sự kiện khoác áo thần thoại đến vậy!

Để kết thúc phần thực tại –lý tưởng này, tôi xin dẫn ra câu nói bất hủ của Kierkegaard về tương quan giữa con người hiện sinh hữu hạn với Thượng Đế vĩnh cửu tuyệt đối:

Thượng Đế là lý tuyệt đối của mọi hiện sinh tương đối”.

11. CƠN KHÁT TÂM HỒN

Khởi sự chúng ta hãy chú ý đến nụ cười hoan lạc của tâm hồn: đó là Đam Mê. Đam mê là trạng thái say khát vui hưởng ngây ngất tột đỉnh hoặc một ý chí dốc lòng hăng say đến vong thân, ở đó con người quên đi nỗi lo chết của mình. Lúc đó đam mê giống như một dấu vết của vĩnh cửu triển khai trong kỳ gian. Kierkegaard nói: “Đam mê xây lên đỉnh chóp của hiện hữu. Đam mê là biểu hiện của vĩnh cửu trong đời sống của chúng ta. Bởi lẽ đời sống nhân loại là sự pha trộn giữa vĩnh cửu và tạm thời, đam mê đã biểu tỏ cuộc đấu tranh ở đó con người nỗ lực hướng về vĩnh cửu” ( Sdd ‘La Philosophie moderne’, tr.104).

Đam mê là những lằn chớp chói sáng ngất ngây trong kiếp người lầm lụi, thiếu đam mê con người sẽ sống như một cỗ máy ngốn thức ăn luôn tay luôn chân cử động. Nhưng đam mê chỉ xuất hiện như tột đỉnh ngắn ngủi giống như buổi yến tiệc diễn ra xuân thu nhị kỳ giữa năm tháng kéo lê tẻ nhạt của cuộc đời. Tuy vậy đam mê đã nổ sấm chớp khởi đầu những trận mưa móc tưới mát mảnh đất cuộc đời khô cằn nứt nẻ. Đam mê dù ngắn ngủi, nhưng cái triển hạn của nó đã đóng góp những thời khắc bản lề đáng giá cho đời sống. Chúng ta có thể tìm thấy bằng chứng giá trị của đam mê qua phát hiện của Freud về bản năng sống chết mãnh liệt của con người thể hiện qua niềm luyến ái; và chúng ta cũng thấy bằng chứng ấy ở Schopenhauer qua tác phẩm “Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết”.

Chúng ta hãy quan sát một đôi uyên ương đang ngây ngất đam mê quên trời quên đất, quên cả những gì diễn ra xung quanh. Đó là cái gì? Đó có phải là tình yêu giữa hai cuộc hiện sinh hữu hạn trong hiện tiền đã quên đi sự lo chết bằng cả sự ngất ngây của tinh thần lẫn sự hoan hỉ của thể xác trong hy vọng đang gieo cấy vào thời gian những thế hệ kế tiếp để thay thế cuộc hiện sinh của họ sau khi tịch diệt. William Burgh nói: “Con người là một động vật, nhưng không hẳn là vậy, có những tiềm năng trong bản tính của nó: trí năng, luân lý và tôn giáo; tiềm năng đó chẳng bao giờ đạt đến sự viên mãn trong giới hạn cuộc sinh tồn ngắn ngủi”.

Đam mê của con người chẳng bao giờ tự thỏa mãn trong cuộc truy hoan phút chốc, và khi đó Thượng Đế vừa là sự say khát vĩnh cửu của đam mê, vừa là tiềm năng vô tận rót chảy vào miền hữu hạn của con người và mặc khải cuộc vui hưởng vĩnh cửu của linh hồn qua ngả thời gian. Bởi lẽ đó, Thượng Đế còn được tạo dựng để biện chính và làm căn bản cho khát vọng của con người. Scheler nói: “Thượng Đế như là một nhân vị tương xứng với toàn thể thế giới”.

Thượng Đế là một cuộc hiện sinh kéo dài vĩnh cửu được tâm hồn khát khao của con người tạo dựng nên, nhằm tạo ra một cội nguồn chẳng ngừng tiếp ứng cho những tiềm năng hữu hạn của con người. Và hơn nữa khi con người không thỏa mãn về khuôn khổ giới hạn của mình, nó sáng tạo ra một nhân vị xứng đáng toàn hảo - tuyệt đối để chiêm ngắm và nhảy đến. Kierkegaard nói: “Tín ngưỡng là cuộc nhảy vọt từ hữu hình đến vô hình từ người đến Thượng Đế” (sdd ‘Hiện tượng luận về hiện sinh’, tr.58 ).

Đó là bản tính tất yếu của mọi đôi cánh khát vọng muốn nhún mình nhảy ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của đất sống bay vào giữa bầu trời lồng lộng. Sartre nói: “ Con người thiết yếu là một hữu thể khát khao… con người là hữu thể dự phóng trở thành Thượng Đế. Tự do của nhân loại được thể hiện qua sự lựa chọn Thượng Đế”.

Mặt khác, khi con người ngửa mặt nhìn vũ trụ mênh mông lồng lộng, cùng tất cả những sự kiện khắc nghiệt xảy ra trong dòng lịch sử đầy máu lửa tranh đấu sinh tồn, con người bỗng mặc cảm về tầm vóc bé mọn cũng như số phận mỏng manh của mình. Mặc cảm đó khiến nỗi sợ hãi của con người truy cầu một nơi chốn an toàn, một Đấng siêu việt có thể che chở cho thân phận yểu mệnh của mình. Thánh Augustine nói: “Tâm hồn tôi xao xuyến mãi mãi đến khi nào nó được an ninh trong Chúa”.

Và mạnh hơn tất cả, cái xuyên suốt từ buổi uyên nguyên đến phút tối hậu của một con người là cuộc đời nó. Nó luôn luôn nhìn thấy rằng: mình phải chết! Mình không tài nào tránh khỏi cái chết! Bằng kinh nghiệm sống thực của mình con người buộc phải thừa nhận một sự thật trân trối rằng: nó không thoát khỏi cái chết sinh vật! Có một thực tại tất yếu rằng chẳng một đời sống nào không khát sống, tất cả các chủng giống có mặt ở thế gian này hòa điệu –ân ái – sinh sôi nảy nở để duy trì giống nòi là thực hiện cứu cánh khát sống của chúng. Con người có muốn mình phải tịch diệt vĩnh cửu không sau cái chết sinh vật của da thịt? Không! Con người muốn được vĩnh cửu, nó muốn linh hồn nó sống mãi. Một tín đồ Ki-tô giáo đã tâm tình: “Các bác xem, sự vô đạo thì tiện để sống, nhưng để chết thì thật là quỉ”.

Trong thực tại, con người là một hữu hạn, một đời sống đang vận trình đến cái chết, một giấc mơ đang tàn tạ, một cơ thể đang mỏi mòn suy yếu dần, một thành công danh tiếng đang suy vi. Đó là một thực tại mà con người không thể nào chối bỏ được, nhưng con người cũng không dễ thua cuộc, ý chí của nó muốn vậy, và nó đã cứu vãn nỗi tuyệt vọng của mình bằng cách:

“Nỗi tuyệt vọng về mình đầy tin cậy nơi Thượng Đế” ( M. Luther ).

12. BẢN TÍNH CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ít nhất, chúng ta hãy giả thuyết rằng có Thượng Đế. Song Ngài là ai? Hay Ngài chỉ là một hình ảnh để ngẫm nghĩ cho đời đỡ buồn tẻ? Câu hỏi : Ngài là ai? Buộc chúng ta phải lần theo gót các tiền bối để tìm ra bản tính của Ngài. Và chỉ khi Thượng Đế có một bản tính thì Ngài mới nên có mặt, vậy cuộc tìm tòi bản tính Thượng Đế của tôi sẽ trải qua những thuộc tính sau:

Thượng Đế là chân lý - lề luật - tự do – công chính – công bằng – công lương – tình yêu.

Thượng Đế của tôi là ai? Nếu Ngài chỉ là một huyễn tượng phù phiếm thì Ngài hãy tịch diệt đi trong cõi vô ích của Ngài. Tôi là một con người công chính, tôi không thích sự vô ích. Không! Thượng Đế phải là chân lý! Theo ý tưởng của Descartes thì Thượng Đế hiển nhiên là chân lý và Ngài còn lớn hơn chân lý bởi Ngài là chủ của hữu thể - mà các hữu thể lại tự thân là chân lý, vậy Ngài là chân lý và lớn hơn chân lý. Trong kinh tụng các tín đồ Ki-tô giáo có đoạn: “Ngài là chủ của muôn vật hữu hình và vô hình, Ngài sinh ra mà không phải tạo thành”.

Thượng Đế sinh ra mà không phải tạo thành! Đó chẳng phải lời nói khôn ngoan và nền tảng nhất về hữu thể luận ư! Bởi lẽ, mọi vật đều phải được sinh ra, riêng Thượng Đế tự sinh ra Ngài, bởi vậy Ngài là hữu tự tại đầu tiên và duy nhất. Khởi từ ngài đi mọi vật sẽ được sinh ra bởi Ngài, và mọi vật là thụ tạo chứ không tự tạo. Trong Kinh Phúc Âm có câu: “Ta đến để cứu vớt những con chiên đã lạc mất. Ta đến để làm chứng cho sự thật” (Gagnon – sách thủ lãnh , tr.226 ).

Câu nói trên gợi cho chúng ta điều gì? Có phải đó là lời tuyên xưng khởi đầu của Thiên Chúa khi xuất thế trần gian. Lời tuyên xưng “Ta đến để làm chứng cho sự thật” là lời loan báo: Thiên Chúa là chân lý! Ngài đến như một chân lý! Và chỉ có như một chân lý, Ngài mới xứng đáng sống giữa tâm trí công chính của chúng ta. Và Thiên Chúa chỉ dụ: “Ai theo Thầy không bao giờ vào nơi trụy lạc. Ta là sự thật. Ta là sự sống. Ta là đường chính” (Kinh Thánh).

Không vào nơi trụy lạc: nghĩa là đạo hạnh

Ta là sự thật: nghĩa là Thiên Chúa là chân lý

Ta là sự sống: nghĩa là Thiên Chúa là tình yêu

Ta là đường chính : nghĩa là Thiên Chúa là công chính

Thượng Đế, Ngài tự tạo! Sau đó Ngài tạo ra chúng tôi và vạn vật thế nào?

Câu hỏi này đã gieo nhiều cắc cớ cho các triết gia và thần học gia. Thưa Thượng Đế, Ngài có sinh ra những con đại bàng bay xuyên những tầng mây cao nhất? Ngài có đẻ ra những con cá voi nỗi lên giữa biển như những hòn đảo? Ngài có tạo ra những dãy núi sừng sững? Ngài có bõ công để sửa sang hình dáng cho những chú kiến nhỏ chào đời? Rồi sự tỉ mỉ của thế giới vi mô nữa, Ngài có tạo ra cả thế giới vi trùng nhỏ đến mức chúng kéo đến đông đặc trên chiếc râu của một con kiến và xây lên ở đó cả một quốc gia với nhiều thành phố? Ngài có tạo ra những ngọn gió thổi từ bắc xuống nam. Và những luồng khí đi từ nam lên bắc?

Có nhiều ý tưởng cho rằng, Thượng Đế của chúng ta là Đấng bao dung quảng khoát nhất khi Ngài không chịu hạ mình làm Đấng sáng thế tằm tăm bông bống, tất cả những vật thể từ to lớn kỳ vĩ đến những sinh vật nhỏ li ti, mà Ngài là Đấng sáng thế vạn vật trong nguyên lý sáng tạo ra chúng và tự chúng sẽ sinh sôi nảy nở theo nguyên lý đã áp đặt cho chúng. Đây cũng chỉ là một giả tưởng, song cái nổi lên hơn cả trong vũ trụ được sáng thế của Chúa là hai chất liệu sống còn: Linh hồn và Vật chất. Có lẽ đây là hai chất liệu được các triết gia đồng ý hơn cả.

Sau khi tạo ra vũ trụ, Thượng Đế chỉ tạo ra lề luật, Descartes cho rằng: “Thượng Đế chỉ tạo ra lề luật bởi đó thế giới được ngự trị” (Sdd ‘La Philosophie moderne’, tr.18).

Để trả lời câu hỏi: Thượng Đế tạo ra chúng ta và vạn vật thế nào? Tôi xin đưa ra ý kiến của mình:

Khởi đầu Thượng Đế tạo ra hay có trong tay hai chất liệu: linh hồn và vật chất, sau đó Ngài tạo ra nguyên lý sản sinh ra chúng, và tiếp theo để cai quản chúng trong trật tự, Ngài tạo ra lề luật.

Thượng Đế là tự do!

Đó là một phương ngôn hùng hồn và cũng đầy ngán ngẩm. Chúng ta thử nghĩ, khi Thượng Đế là chủ nhân ông sáng thế vạn vật, Ngài ở trên đầu vũ trụ, Ngài thâu tóm tất cả các nguyên lý, lề luật, Ngài toàn năng, toàn quyền thì có điều gì Ngài chẳng làm được. Nếu vậy, lời tuyên xưng Ngài là tự do có vô ích không? Và nếu Ngài dấu mặt thì con người tôn xưng Ngài lên ngai vàng tự do để làm gì? Chúng ta hãy tham chiếu ý tưởng sau đây của Charles Werner: “Phúc âm đã tôn xưng ánh sáng linh hồn nhân loại như một giá trị duy nhất, nó chỉ ra rằng linh hồn cao cả hơn cả vũ trụ toàn thể” (L’evangil a mis en lumiere la valeur unique de l’ame humaine; il a montre que l’ame est plus precieuse que l’universe entier. – Sdd ‘La Philosophie moderne’, tr.10).

Thượng Đế với con người trước hết là linh hồn, thứ linh hồn mà sách Phúc Âm đã định đặt như một giá trị duy nhất cao cả hơn vũ trụ toàn thể. Bởi vậy, khi con người tuyên xưng “Thượng Đế là tự do” thì có nghĩa con người cũng tuyên xưng “Linh hồn là tự do”.

Linh hồn là tự do!

Còn gì chính đáng hơn quyền tự do của linh hồn? Chúng ta đều đã đi qua những chặng đường xác thực: ý chí là tự do! Tư tưởng là tự do! Ý thức là tự do! Thì đến đây chúng ta cũng phải thừa nhận: linh hồn là tự do! Bởi lẽ linh hồn vừa thiết yếu mang bản tính tự do vừa khởi từ tự do và nhắm đến tự do.

Linh hồn tự do đó là điều tốt lành, bởi lẽ linh hồn là cơn khát vòi vọi nhất của tinh thần thèm thuồng cao viễn. Nhưng khi mà linh hồn của con người dâng lên cao vút để xây đắp chân móng cho Thượng Đế, khi linh hồn đặt Thượng Đế lên ngai vàng, rồi nói: Ngài là chủ nhân ông của chúng tôi. Ngài tự do tuyệt đối. Khi đó điều gì sẽ xảy ra? Khi Thượng Đế cầm quyền trượng tối cao của mình, với tự do tuyệt đối trong tay thì Ngài có trở thành một ông chủ tối thượng cai quản dắt mũi hay hành hạ đàn chiên linh hồn non bấy làm người? Đây là vấn nạn rất khốc liệt của thần học. Chúng ta nghe cái phút lâm chung nô lệ của linh hồn yếu ớt khi Spinoza quả quyết về tự do của ông chủ Thượng Đế: “Chỉ có Thiên Chúa là tự do, bởi lẽ chỉ Ngài hiện ra trong sự thiết yếu của chính Ngài” (Dieu seul est libre car lui seul exist et agit en vertu d’une necessite’ qui lui est interieur. Sdd ‘La Phi losophie moderne’, tr.105).

Đây có phải là một nghịch lý quyết tử? Trong khi linh hồn khao khát tự do, nó lại tạo dựng một ông chủ để cam lòng cúi đầu sợ hãi dưới quyền trượng tối cao của Ngài. Đây là một vấn nạn gây nhiều nan giải nhức nhối trong tâm hồn khát khao Thượng Đế, và là nỗi éo le trăn trở của nhiều học giả. Nhà tư tưởng Emerson đã đưa ra hình ảnh rất đích đáng về tự do, ông dẫn dụ: có một con sói khi lao vào một bầy cừu, nó bảo: ta có tự do để săn mồi. Lúc đó tự do của bầy cừu sẽ nằm ở đâu? Hay chúng chỉ có được cách tự do là chịu sợ hãi và hủy diệt? Bởi vậy Emerson cho rằng: tự do thiết yếu là giành cho kẻ yếu, bởi họ luôn luôn nằm trong nguy cơ bị tước đoạt mất tự do.

Vậy khi chúng ta tôn xưng Chúa tự do, thì có phải chúng ta tôn vinh thứ tự do săn mồi của một ông chủ toàn quyền toàn bích? Đây cũng là một cơn trăn trở dài của Dostoievski trong nhiều tác phẩm của ông. Đặc biệt là trong tác phẩm “Anh em nhà Ca-ra-ma-dốp”, qua nhân vật viên phán quan, ông đã lý giải nhiều về điều này…

Vậy thượng Đế chúa tể cần thiết cho ai? Có phải nếu không có Ngài, thì tất cả bánh mỳ ở trần gian sẽ rơi vào tay kẻ mạnh? Song may mắn thay! Thiên Chúa hiện ra để giữ lề luật của Ngài khiến kẻ mạnh phải sợ và kẻ yếu được nâng lên. Thượng Đế tòan năng, Ngài chỉ dùng uy quyền của mình để bảo trì, giữ gìn một đời sống tràn ngập tình yêu và công chính dưới trần gian. Bởi lẽ không có Ngài, kẻ xấu sẽ toàn quyền làm mọi chuyện.

Và đến lượt Ngài, khi mà Ngài toàn năng trong quyền trượng tối thượng tuyệt đối của Ngài, Ngài có trở nên một ông chủ độc tài - độc tôn khủng khiếp hay không? May mắn thay cho chúng ta! Thượng Đế quả là xứng đáng danh vị về Ngài, Ngài đã hòa giải quyền lực tối cao của Ngài bằng cách không có mặt. Standhal nói: “Sự miễn thứ duy nhất của Thượng Đế là đừng hiện hữu”.

Đây là một câu nói nổi danh, khiến Nietzsche một kẻ chống Chúa nổi danh đã xưng tụng Standhal như một nhà văn tài ba xuất chúng. Standhal đã hóa giải được cắc cớ về quyền lực độc tôn của Thượng Đế bằng chính Ngài - bằng chính sự dấu mặt của Ngài. Thượng Đế cần thiết cho chân lý, cho đức hạnh và cho cả sự khiêm nhường của chúng ta. Nếu không có Thượng Đế, con người cao ngạo chẳng bao giờ quì gối trước tha nhân, người hàng xóm hay đồng sự của nó.

Nhưng có thượng Đế, con người đã quì gối để học biết khiêm nhường, nó ngẩng đầu lên, nhưng may mắn thay không có ông chủ nào xuất hiện để tước đi lòng cao ngạo của nó; Thượng Đế đã dấu mặt để con người học lấy sự khiêm nhường mà chẳng hề làm suy tổn trái tim dạt dào ngạo nghễ của nó. Cũng vậy, linh hồn tự do cúi đầu suy tôn một ông chủ tuyệt đối để giữ lấy lề luật của tự do, sao cho tự do của nó không bị đe dọa hay ức hiếp từ tự do của kẻ khác mạnh hơn nó. Song đến lượt nó, nó kinh hoàng ngẩng mặt nhìn ông chủ toàn năng, Người đã buộc đôi chân của nó đậu dưới cái nền nô lệ, nhưng may mắn thay ông chủ đó không có mặt. Ngài bỏ mặc linh hồn được sống trong tự do của nó.

13. THƯỢNG ĐẾ LÀ CÔNG CHÍNH

Thượng Đế là công chính, công bằng và công lương!

Thánh Kinh có câu: “Khởi đầu của đạo hạnh là lòng kính sợ Thượng Đế”. Sợ Thượng Đế là gì? Có phải chúng ta sợ một Đức Ông có nhiều phép thuật hô mưa vẫy gió, ném sấm sét bão tố thịnh nộ xuống trần gian, hay khơi cho lòng đất mở chiếc miệng đầy lửa nuốt chửng những thành phố và con người bé mọn? Không phải! Đạo hạnh không khởi nguồn từ sự sợ hãi của một tên đạo chích đang co rúm lại trước những lằn roi trừng phạt hay tróc vấn. Mà nỗi sợ hãi của những con người công chính là sợ hãi mình chưa được công chính, toàn thiện và tuyệt hảo. Và bản mẫu công chính – toàn thiện - tuyệt hảo của con người là Thượng Đế; con người ngắm nhìn Thượng Đế như một quan tòa công chính tối cao đang phán xét họ. Bởi vậy con người sợ hãi. Song, đó là con người công chính, còn kẻ xấu thì sao? Thánh Vịnh có câu: “Kẻ dại tự nhủ lòng mình rằng không có Đức Chúa trời và họ tha hồ làm ra hư hốt.”

Đúng vậy! Kẻ xấu muốn được thỏa sức trong hành động gian trá, xấu xa của mình để truy cầu thị dục cho thân xác hay linh hồn bẩn thỉu của hắn, hắn phải phế bỏ Thượng Đế. Phế bỏ Thượng Đế tức là phế truất đi tất cả những lề luật hay bản mẫu tốt đẹp lý tưởng nào mà hắn phải theo đuổi. Để tiện cho công việc của mình, hắn buộc phải căm ghét Thượng Đế. Các bạn thử ngẫm xem, có tên trùm nào thích pháp luật không? Có kẻ xấu nào thích bị điều thiện lên án?

Tuy nhiên, Thượng Đế không phải là thứ quan tòa người trần mắt thịt ở giữa chúng ta, Ngài phải là một người cha độ lượng, một ông chủ bao dung. Ngài muốn sự công bằng của Ngài được thực thi đầy bao dung ở cuộc đời dưới thế. Kinh Thánh có câu:

“Sự công bình của kẻ công bình không cứu được nó trong cái ngày mà nó phạm tội.

Sự dữ của kẻ dữ sẽ từ bỏ nó trong cái ngày nó lìa bỏ sự dữ.”

Đó là lề luật công bằng của Chúa. Thiên Chúa muốn rao giảng một thứ công bằng huyền nhiệm như bản tính bao dung độ lượng của Ngài, chứ không muốn luật công bằng của Ngài chỉ đơn giản là thứ luật đồng đẳng, đồng cấp, đồng sự - một là một, hai là hai. Ngài muốn sự công bằng được thực hiện riêng rẽ trong những đẳng độ khác biệt. Ngài nói: “Những nhân viên thuế quan, những cô gái điếm sẽ vào Nước Trời trước quí ông.”

Song bản tính của Thượng Đế có đơn giản chỉ là lương thiện? Nếu như vậy tại sao dưới sức mạnh toàn năng của Ngài, quỉ dữ vẫn có mặt đầy thế gian này? Chúng có phải tạo phẩm của Ngài? Hoặc nếu không thì tại sao Ngài lại không dùng phép toàn năng của Ngài để quét sạch chúng khỏi bầu trời này, khỏi trần gian này, và lúc đó không khí hít thở của vũ trụ chỉ còn tràn ngập ánh sáng lương hảo? Thiện và ác là bản chất huyễn hoặc của Thượng Đế. Bạn có kinh hoàng không khi nghe lời tuyên xưng sau đây của Thượng Đế: Ta là thời gian mang hủy hoại xuống trần, ta hiện ra trần thế để tiêu diệt con người” (sdd ‘Kinh Gita’, tr.158 ).

Bạn có hoang mang không? Và Thượng Đế của chúng ta là ai? Ngài có phải là người Cha sẵn lòng hủy diệt những đứa con của mình? Và cũng tương tự như vậy, trong Kinh Matheus, Chúa nói: “Đừng tưởng Thầy đến để đem hòa bình xuống trần gian, Thầy không mang hòa bình nhưng lại đem gươm dao. Bởi vì Thầy đến để đối lập hóa thanh niên với cha, thiếu nữ với mẹ, con dâu với mẹ chồng, và kẻ thù của người ta chính là những phần tử ở trong gia đình.”

Như vậy, làm sao chúng ta có thể hiểu Thiên Chúa của chúng ta là toàn thiện, bởi cùng với sự rao giảng cho hòa bình thì Ngài cũng cổ xúy cho chiến tranh. Đâu là bản tính lương hảo của Ngài? Đây cũng là một tra hỏi khiến nhiều tu sĩ, thần học gia vỡ đầu. Để hiểu rõ bản tính lương hảo của Thiên Chúa, chúng ta hãy chú mục vào hai câu sau: “Thầy không mang hòa bình nhưng mang gươm dao”, và “Thầy đến đối lập hóa thanh niên với cha”.

Chữ “gươm dao” của Chúa gợi cho chúng ta rằng sự nghiệp ở đời không phải trò đùa, và trần gian không phải nơi nghỉ mát cho những tâm hồn biếng nhác ươn hèn. Nền hòa bình mà Chúa mong ước có đơn thuần chỉ là sự ổn định? Mà sự ổn định liệu có phải là chặng nghỉ ngơi độc hại của Chúa? Thiên Chúa còn nói: “Ta đem đến cho các ngươi hòa bình và chiến tranh giống như thời gieo cấy và mùa gặt hái”. Hòa bình của Chúa là hòa bình đầy vận động và nó chỉ được tựu thành sau khi thu hái. Liệu con người có ngần ngừ trước một cánh đồng lúa chín, hạ tay liềm xuống khi nhủ lòng rằng, thật ác tâm khi gặt đi những bông lúa trĩu bông? Không! Không gặt mới là ác tâm, bởi chính những bông lúa được sản sinh trong nguyên lý của Chúa, chúng cũng muốn phụng hiến cho đời, chứ không muốn chết thối trong bùm đất.

Còn chữ “đối lập thanh niên với cha” gợi lên cho chúng ta ý tưởng của Chúa đã xác tín ở câu cuối cùng “kẻ thù của người ta là chính những phần tử trong gia đình”. Quốc gia của Chúa không muốn có nền hòa bình ươn thối sự ổn định, và gia đình của Chúa cũng không có nổi khung cảnh ấm êm thối rữa. Tại sao Chúa muốn vậy? Phải chăng Chúa muốn tạo ra nội tại tính trong từng vật thể, trong mỗi gia đình để tạo nên sự chà sát chân lý vận động ngay từ bên trong, khiến gia đình đó trở nên tốt lành hơn khi biết đào luyện lẫn nhau.

Và khi Chúa đem thanh niên đối lập với cha, có phải Chúa muốn thế hệ con cháu phải có sứ mệnh đào thải những giá trị cổ hủ bế tắc của lớp cha ông? Song đó chỉ là giả định, và những giác quan khác nhau sẽ đem lại những gải định khác nhau. Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một vấn nạn lương hảo đầy cắc cớ. Chúng ta hãy xem một đoạn văn sau đây của nhà văn Umberto Eco:

“Kẻ giết người sẽ chịu tội trước Chúa, nhưng chỉ vì hắn đã nhận làm phương tiện chuyên chở các sắc lệnh của Chúa. Cũng như cần có kẻ phản bội Chúa để hoàn thành sự cứu rỗi huyền bí, thế nhưng Chúa lại cho phép nguyền rủa và thóa mạ kẻ đã phản bội Ngài… Có kẻ đã mang đến chết chóc và hủy diệt, nhưng tôi nói cho quí vị biết, sự hủy diệt này nếu Chúa không mong, thì ít ra cũng cho phép để làm nhục lòng kiêu hãnh của chúng ta” ( Tên của đóa hồng, tr.380 ).

Đức Chúa trời có thiện không khi mà Ngài cho phép cả thiện và ác xuất hiện cùng một thể? Để lý giải điều này, chúng ta hãy lần theo một đoạn văn của Kinh Cựu Ước, đoạn Đức Chúa trời thử thách Abraham bằng cách bảo ông cầm dao giết con một của mình là I-sắc để hỏa thiêu dâng tế Đức Chúa trời. Abraham đã nhận lời. Vào đúng lúc Abraham đau xót giơ dao lên để giết con, thì Chúa Trời hiện ra ngăn lại. Đây có phải là những bằng chứng nhức nhối của mâu thuẫn không?

Nếu Đức Chúa trời không muốn I-săc phải chết, thì Ngài bày đặt ra tất cả những chuyện đó làm gì? Không! Thiên Chúa là chúa tể của mọi lề luật như một đồng nhất thể chứ không phải một Đấng độc tài nay thế này mai thế khác. Ngài đã bắt Abraham nhận hiến tế con một để ông nhận ra sự dâng hiến là gì - sự dâng hiến càng quí giá càng quyết liệt khi mà chủ sở hữu chỉ có cái duy nhất để cống hiến. Sau đó Ngài nhủ ông giết con để dạy ông về tình yêu và niềm thương xót đứa con của mình, và khi tội ác sát nút thực hiện thì Chúa Trời đã hiện ra ngăn lại, chính thời khắc này Abraham đã nhận ra tội ác, tội tàn sát tình máu mủ của mình.

Đức Chúa Trời là ai? Ngài là toàn năng nhưng là thiện, bởi thế chính Ngài cũng không thoát khỏi nguyên lý thiện – ác. Ngài là sự có mặt, thì chính Ngài phải hàm chứa sự vắng mặt, bởi sự có mặt chỉ là sự vắng mặt được lấp đầy. Để lý giải bản tính của Thiên Chúa một cách giản dị, nhiều nhà thần học đã cho rằng: Thiên Chúa thiện như ý định phải tạo thành một chiếc áo, song muốn làm được việc đó trước hết người thợ may phải cắt vải, và chiếc áo được tựu thành nhưng vẫn còn đó những đường khâu; tuy nhiên cả đường cắt và khâu không phải để tách dời tấm áo mà ngược lại để ráp những mảnh vải lại trong một hình thức hoàn chỉnh và hiện hữu. Vậy đấy, Thiên Chúa là một tấm áo từ thiện, chính Ngài cũng chẳng thoát khỏi những đường may cắt để hoàn thiện - bởi một lẽ quá hiển nhiên: chính Ngài là nguyên lý hoàn thiện.

Thiện – Ác là tương quan rất phức tạp và hóc hiểm trong triết học và thần học, song ở đây, vì không muốn mảnh đất văn chương của chúng ta quá sa đà vào một lãnh vực chuyên biệt nào, để kết thúc tra hỏi : Liệu Chúa có thiện? Tôi xin trích dẫn ý tưởng của thánh Augustine:

“Thiên Chúa không phải là nguyên do tội ác. Thiên Chúa là nguyên do mà mọi hữu thể thấm nhiễm điều tốt lành trong bản tính và vận động của nó: nguyên do mà ở đó sự xấu chỉ xuất hiện như một khuyết phạm và lầm lẫn tất yếu trong nguyên lý sáng tạo” (Dieu n’est pas la cause du mal. Dieu est la cause de ce qu’il y a de bon dans les etres et dans leurs actions: Ce qu’il ya de mauvaise n’est qu’une privation, un defaut, qui ne saurait etre impute au principe createur. – Sdd ‘La Philosophie moderne’ ).

14. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU (Dieu est l’amour!)

Đó là lời tuyên xưng của Đức Ki-tô khi hạ thế. Chúa Jesus nói vậy, còn Đấng siêu việt của chúng ta thì sao? Thượng Đế, Ngài có là tình yêu? Chúng ta hãy nhìn ra vũ trụ của thượng Đế:

Những con bướm rập rình ve vãn suốt ngày quyến luyến bên những nhụy hoa tỏa hương quyến rũ không biết mỏi; những con sóng dạt dào mãi khôn nguôi đổ ập vòng tay mênh mang vào ru bờ cát, những con sông miệt mài trong ái tình thôi thúc chẳng bao giờ biết mệt cuốn về cửa biển, những ngọn gió đa tình thì thào quấn lấy những vòm cây, những hạt sương lung linh hút lấy ánh dương đang dịu hiền tỏa sáng, những đám mây u hoài tụ về đùa với mặt trời buồn dịu buổi hoàng hôn ở cuối chân trời… Những mối tình da diết ở khắp mặt đất này đến nỗi J. Sartre đã rú lên trong tiếng rên dày vò vô hạn định: “Cuộc đời yêu như thể đất thịt này!” (La vie est aimable comme la terre charnelle).

Không có ái tình, thì mặt đất tha thiết miệt mài này làm sao hút nổi sinh khí từ bầu trời cao vòi vọi để hun đúc lên nhựa sống khắp hành tinh? Không có ái tình thì làm sao những chùm rễ có thể quấn quít cắm vào lòng đất hút lấy nguồn mạch đời sống đêm ngày? Không có ái tình thì làm gì có nổi một mảnh đất để những trái tim gieo cấy hạt giống tình yêu và da diết đợi ngày hái quả? Không có tình yêu sẽ không có gì cả! Không tình yêu, cuộc đời cũng chẳng còn ong bướm, chẳng có lứa đôi, chẳng có cha mẹ, và cuối cùng chẳng có sinh tồn!

Liệu Thiên Chúa, Người sáng thế ra vũ trụ này có muốn đứa con của mình tận diệt? Chắc chắn là không! Trái lại, một cách rất tự nhiên, Ngài muốn duy trì thế gian của Ngài trong ngọn lửa không ngừng nghỉ của ái tình. William Pen nói: “Tôn giáo chẳng là gì cả nhưng là tình yêu hướng tới Thiên Chúa và con người” ( Religion is nothing else but love to God and man).

Song đức cao cả nhất của tình yêu là sự tận hiến cho tha nhân. Đức Phật Thích Ca đã dời bỏ ngai vàng, vợ đẹp, vàng bạc châu báu của vương quốc dấn thân vào cát bụi cuộc đời mong tìm kiếm chân lý cứu rỗi. Đức Chúa

Jê-su đã đến với con người không phải bằng ánh sáng vinh quang tuyệt đỉnh của Đấng toàn năng, mà Ngài đến với tâm linh còn nhục nhằn của nhân loại bằng sự chia sẻ đau đớn điếm nhục nhất: Ngài chịu sỉ vả, đóng đinh trên thập giá giữa hai tên trộm. Bởi lòng tận hiến vẹn toàn - dấn thân nhất của mình, Ngài mới tuyên xưng: THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.

Tình yêu của Đức Chúa Jê-su là một vỉa quặng rất lớn mà các văn sĩ, thi sĩ đã khai thác suốt dòng lịch sử. Chúng ta hãy thử xem một đoạn trong vở KHỔ NẠN (Mystere de la passion ) của Arnould Greban:

Đức mẹ Maria

Do thánh ý, ít ra xin Chúa

Hãy tịch sao cho mau chóng nhẹ nhàng

Chúa Jê-su

Con sẽ tịch một cách thật đau thương

Đức mẹ Maria

Nhưng không quá đê hèn và tủi hổ

Chúa Jê-su

Trái lại rất đỗi nhọc nhằn khả ố

Đức mẹ Maria

Vậy nên chăng xin chớ chọn nơi gần

Chúa Jê-su

Sẽ giữa nơi đông đủ các bạn thân

Đức mẹ Maria

Vậy, sẽ đợi đến đêm khuya, ta xin Chúa!

Chúa Jê-su

Trái lại, sẽ đúng lúc giờ điểm ngọ

Đức mẹ Maria

Vậy xin tịch như những hàng quí tộc

Chúa Jê-su

Con sẽ tịch giữa hai tên đạo tặc

Đức mẹ Maria

Ở dưới đất sâu không một âm hao

Chúa Jê-su

Sẽ treo thành chữ thập ở trên cao

Đức mẹ Maria

Xin hãy đợi tuổi già sức yếu

Chúa Jê-su

Ngay lúc con sức dồi dào niên thiếu

Đức mẹ Maria

Mong sao cho máu Chúa khỏi chan hòa

Chúa Jê-su

Con sẽ bị bài báng và căng ra

Xương của con sẽ đếm được tất cả

Hai vai nhục thể sẽ bị thiên hạ

Đặt điều tội lỗi chất tày non

Rồi cả hai chân và hai tay con

Bị đâm chém thành vết thương sâu rộng

( ‘Mười thế kỷ văn chương Pháp’, Đoàn Rạng – Vũ Quí Mão- Trần Như Thuần, Khai Trí 1961, tr.131).

Chẳng có tình yêu nào mà không phụng hiến. Cái gì quí nhất thì cũng xứng đáng để phụng hiến nhất. Tình yêu cao cả nhất là tình yêu mà ở đó trái tim nhân ái cao thượng đã tận hiến đến giọt máu cuối cùng của nó trong sự quên lãng chính mình. Cũng vậy, để cứu rỗi loài người, Chúa Jê-su đã hiến dâng tất cả: danh dự, tuổi trẻ và tâm linh của Ngài. Nhà triết học Charles Werner nói: “Thiên Chúa là tình yêu, song bởi chính Ngài niềm khao khát được thẩm thấu qua ngả trí năng. Tình yêu mang bản tính thần thánh và chính nó là một tạo phẩm được tạo dựng từ tay Đấng sáng tạo” ( En Dieu le desir, penetre par l’intelligence, n’est rien d’autre que amour. L’amour est la substance meme de la vie divine, et c’est par la que Dieu est createur. – Sdd ‘La Philosophie moderne’).

Thượng Đế, Ngài mang bản tính tình yêu, Ngài tạo ra vũ trụ mang đậm bản tính tình yêu của Ngài. Và con người liên đới với nhau qua Ngài bằng hơi thở ấm áp của tình yêu bao la đó. Nhân danh tình yêu của Ngài, con người qui tụ lại trong vòng tay nhân ái của tha nhân, và tình yêu đó ở đầy mặt đất, trần gian trở nên nền móng của mái nhà tình yêu vũ trụ trong tay Thiên Chúa vĩnh hằng.

Bạn và tôi, em và anh, chúng ta cùng tôn vinh tình yêu Thiên Chúa như một bà mối siêu hình cho linh hồn chúng ta.

15. PHẢN THƯỢNG ĐẾ

Chúng ta đã cùng ca lên trọn khúc về Thượng Đế, song đến đây trái tim kiêu hãnh của chúng ta muốn ca lên khúc hát riêng của nó, và khúc hát mà nó thích nhất là: bản hành khúc tấn công vào lâu đài im lặng của Thượng Đế. Mở đầu bản hành khúc là giai điệu hùng dũng của khoa học, Heidegger nói: “Tự bản chất khoa học phải là lời giải đáp cho bài toán chân lý”.

Bản chất của khoa học là chân lý, vậy kẻ thù đầu tiên nguy hiểm nhất của Chúa là khoa học. Khoa học với những bộ não thông thái xung phá của chúng ta thật là nguy hiểm! Nó đã phơi áo sự giả trang của ngày sáng thế bằng một chân lý về hệ mặt trời duy cơ tuần tự hoạt động, khoa học với ống kính viễn vọng của Galileo đã làm lung lay cả thâm cung cư ngụ của Chúa trong giáo hội, và ông đã bị giáo hội buộc phải loan báo đính chính lại chân lý về trái đất và hành tinh nhân danh sự an toàn của Chúa, khoa học với hàng loạt các học giả nghĩa khí bị tòa án giáo hội kết tội hay ức hiếp bởi đã cả gan dò tìm hang ổ của Chúa; và ồ ạt hơn nữa, khi thế kỷ công nghệ mở ra hàng loạt thành tựu khoa học rực rỡ xán lạn khiến chủ chăn Thượng Đế ngày càng mất đi những con chiên trí thức. Nhưng trái khoáy thay! Vào lúc khoa học ngày càng phát triển và bành trướng tràn ngập khắp nơi, đúng lúc mà tôn giáo sắp trở nên trò chơi dị đoan cổ hủ chuyên đi dụ dỗ những tâm hồn nhẹ dạ bị phơi áo toàn triệt, thì lúc đó thế cờ lật ngược, tôn giáo lại đo ván chàng lực sĩ khoa học bằng một keo quật ngửa phơi bụng ra trên diễn đàn của thế giới văn minh.

Sau keo vật này các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã cay đắng thú nhận: chưa bao giờ chân lý tôn giáo lại được củng cố chắc chắn như ngày nay. Bởi lẽ khi khoa học tìm hiểu thêm một điều bí ẩn nào đó thì cùng lúc khoa học lại nhận ra một sự thật rằng: nó còn chưa hiểu vô vàn những bí ẩn xung quanh cái mà nó đã phát hiện. Điều này cũng chẳng có gì lạ lắm! Bởi lẽ cả Newton va Einstein hai ông hoàng vĩ đại của khoa học sau quá trình tìm tòi chân lý khoa học đều đã trở về với Chúa, Einstein thì bằng con đường thú nhận chức năng của cảm giác thần bí còn Newton thì thú nhận: “Khoa học chỉ là chút đá cuội và vỏ sò trên bãi biển”.

Tại sao khoa học lại thui chột đi trong sự nghiệp rầm rộ của mình như vậy? Thích Minh Châu có nói về bản chất của khoa học như sau: “Khoa học chỉ chuyên chú bận bận tâm đến dụng thể mà bỏ quên tính thể” (sdd ‘Trước sự nô lệ của con người’, tr.19). Đó là điểm yếu của khoa học, khi khoa học chỉ chăm chú vào dụng thể, thì nó chỉ lưu tâm đến tính sử dụng, áp dụng của vật thể. Hơn nữa tự khởi nguồn sự nghiệp hóa giải thế giới huyễn hoặc của Thượng Đế, khoa học đã mắc ngay phải một hạn chế lầm lạc, đó là: nó muốn khám phá tỏ tường bản tính vô biên, toàn hảo và tuyệt đối của vũ trụ toàn thể bằng những ống kính, những phương tiện hữu hạn của mình.

Tại sao chân lý tôn giáo lại được củng cố vững chắc hơn? Đó là bởi cuộc xung kích bất lực của khoa học hữu hạn vào một vũ trụ vô hạn. Và cuộc xung kích này càng ráo riết dữ dội bao nhiêu thì sau cơn phong ba tôn giáo càng củng cố vững chắc hơn.

Song tôn giáo không dễ dàng được nghỉ ngơi sau cơn phong ba của khoa học như vậy. Thoát khỏi những cơn lũ lụt đang chìm nghỉm dần của những ống kính khoa học hữu hạn, tôn giáo lại phải đối mặt trước cuộc thách thức mới: đó là cuộc tấn công sắc bén của các triết gia phản tôn giáo bằng cách sử dụng chính những thủ thuật phép tắc vô hạn để quấy đảo cái thế giới im ắng vĩnh hằng của Thượng Đế Meleau Ponty đã nói về ý tưởng mở màn để kết thúc vai trò của Thượng Đế như sau: “Nếu có Thiên Chúa thì sự toàn thiện đã được thực hiện rồi ở bên này cuộc đời và sự toàn thiện đó chẳng còn làm thêm được gì. Nói cho đúng không còn gì phải làm cả” ( Si Dieu est, la Perfection est deja realise en de ca du mond, elle ne etre accure, il y a lettre rien a faire).

Đúng không? Nếu có Thiên Chúa thiện hảo toàn năng thì sao xã hội của Chúa ở trần gian này – xã hội của những đứa con đáng yêu nhất của Chúa, vẫn còn đầy rẫy bất công, đói khát, chiến tranh và bạo tàn? Và giả sử nếu có một Thiên Chúa im hơi lặng tiếng, mũ ni che tai tuyệt đối trước những đau khổ chìm ngập trần gian như vậy, thì Thiên Chúa đó là ai? Không! Trước hết con người phải biết tự cứu rỗi lấy mình, và muốn vậy trước hết hắn phải tự do đã, nghĩa là tự do tạo nên sự nghiệp của hắn mà chẳng cần đến bàn tay lãnh cảm của chúa lúc nào cũng khư khư quyền trượng tối cao. Nietzsche nói: “Ý tưởng về Chúa cho đến bây giờ là một vấn nạn lớn lao nhất đối với cuộc đời… Chúng ta khước từ Thượng Đế, chỉ bằng cách đó thôi chúng ta mới cứu vớt được thế giới.”

Con người không thể cứu rỗi được mình khi mà vẫn khom lưng khoác cái ách của Thượng Đế. Cần phải lật đổ ngai vàng của Thượng Đế để lên ngôi chính con người! Chỉ có vậy thôi, con người mới tự tôn xưng mình như một người hùng tự do, tự xây lên cuộc đời chủ nhân ông rực rỡ của mình. Nếu không tiến hành cuộc cách mạng tâm linh một lần cho tất cả như vậy, thì con người mãi mãi chỉ là con chiên nô bộc của Thượng Đế, một con chiên phải phụng hiến cả linh hồn lẫn thể xác để xây lên vương quốc tham lam vô bờ bến của Thượng Đế vô hạn. M. Ponty nói: “Ý thức tuyệt đối siêu hình chết ở ngưỡng cửa Đấng tuyệt đối.”

Khi con người ngưỡng vọng Thượng Đế bằng một tâm linh vô hạn, một ý chí tuyệt đối thì Thượng Đế đã đổi tên tâm linh – ý chí của con người, Ngài như một gã lái buôn tham lam vô tận đã dán nhãn tuyệt đối của Ngài bằng cách chồng khít nó lên linh hồn của chúng ta. Vả lại, nếu con người suốt đời khuất phục Thượng Đế là nó tự nguyện cam chịu chấp nhận số phận đắng cay thê thảm mà Thượng Đế giành cho nó. Alexander nói: “Thượng Đế tàn nhẫn chỉ mình Mi đã làm mọi sự” ( Impitoyable Dieu, Toi seul as tout conduit).

Chúng ta hãy ngắm những trang đời đắng ngắt bất hạnh của lịch sử: nào nạn hồng thủy cuốn đi hàng vạn sinh linh, nào nạn châu chấu, nạn máu chảy thành sông, nạn chết con đầu lòng, những núi lửa há miệng nuốt chửng những mạng người là của ai và do tay ai? Chúng ta hãy nhìn những đàn chiên xao xác sợ hãi làm dấu thánh giá trước tượng Chúa, chẳng lẽ Chúa lại khoái trí thưởng ngoạn nỗi sợ hãi của con người đến vậy? Chúng ta hãy nhìn những đám tín đồ mê muội hò hét giết chóc lẫn nhau, chẳng lẽ Chúa lại khoái sự vô minh đến vậy? Chúng ta hãy nhìn ông già, trẻ nhỏ bị vơ đi vãi xác từ Địa Trung Hải đến phương Đông trong cuộc tàn hủy Thập tự chinh, chẳng lẽ Chúa lại yêu máu đến thế? Nietzsche đã la lên: “Ki-tô giáo là siêu hình học của đao phủ”. Nietzsche còn tuyên cáo: “Cuộc đời chấm dứt ở nơi mà nước Chúa bắt đầu.”

Tuy vậy, trong phong ba bão táp thái độ phản kháng của con người như những làn roi quất vào hư không mà hư không thì chẳng biết đến đau đớn là gì? Hơn cả thế hư không còn như vào hùa với Thượng Đế để len lén mặc khải rằng: Chúa là Đấng có! Đấng ấy bất chấp sự gào thét khai tử của các ngươi.

16. PHẢN TỈNH THƯỢNG ĐẾ

Để hóa giải nỗi éo le về tình trạng dấu mặt mặc khải của Thượng Đế, Sartre đã dẫn phong trào hiện sinh qua một ngả khác mong quên lãng Chúa thay vì phải lật nhào Chúa - một ngai vàng dấu mặt siêu hình. Sartre nói: “Hiện sinh thuyết không phải thuyết vô thần. Nếu hiểu nghĩa vô thần là một cố gắng tận lực để chứng minh rằng Thiên Chúa không hiện hữu. Trái lại thuyết hiện sinh cho rằng: ‘Nếu như Thiên Chúa hiện hữu thì cũng chẳng làm gì thay đổi cả’”.

Đúng vậy! Có Thiên Chúa hay không thì cũng thế cả thôi, con người vẫn phải tự cứu rỗi lấy mình, đào luyện lấy mình, đó là bổn phận tự thân mà nó không tránh khỏi. Và Thiên Chúa không phải sự biện chính tối hậu vĩnh hằng mãi mãi cho sự ỷ lại dựa dẫm của nó. Nietzsche đặt câu hỏi: “Sao? Con người chỉ là một sự lầm lẫn của Thượng Đế hay Thượng Đế chỉ là một sự lầm lẫn của con người?”

Liệu trong sự nghiệp tự cứu rỗi của con người, Thiên Chúa có trở nên vô ích, khi Ngài vô tâm thọc hai tay vô hình của Ngài vào trong túi quần tút hút hư vô để thưởng ngoạn những bi kịch đau xé ở trần gian. Một Thiên Chúa như vậy cần được chúng ta chấp nhận hay từ chối? Albert Camus nói: “Tôi từ chối sự sáng tạo vì sự đau khổ của một đứa trẻ vô tội. Sự đau khổ của nó là một bằng chứng chống lại Thượng Đế và do đó nếu có sự đau khổ thì tốt hơn là đừng có Thượng Đế. Chọn ở đời này, chọn con người vì những ngọn lửa ở mặt đất đáng quí hơn hương thơm trên trời.”

Đúng! Thật chí lý! Tôi cũng sẵn lòng làm một đệ tử của Camus để tuyên ngôn rằng “Nếu có đau khổ thì tốt hơn là đừng có Thượng Đế”, bởi lẽ khi còn đau khổ ở đầy mặt đất thì đó là bằng chứng: Thượng Đế là một chủ nhân ông lãnh cảm, vô trách nhiệm và tồi tệ của chúng ta.

Nhưng chúng ta hãy lược xét lại:

Có phải những ngọn gió vẫn ru lấy trần gian, có phải trăng sao vẫn nhấp nháy thắp sáng bầu trời, có phải mặt trời vẫn đùa nghịch với trái đất trong vòng tay chính xác đầy bổn phận của nó, có phải lúa vẫn hai vụ, có phải nước biển vẫn mặn mà và nước sông thì vẫn ngọt ngào! Vậy ai là nạn nhân, ai là tội phạm của nỗi thống khổ trần gian?

Biết bao kẻ cơ nhỡ không chốn nương thân, trong khi có biết bao kẻ phè phỡn thênh thang thích xóa sổ những tòa nhà thành gạch vụn trong thuốc nổ? Có những đứa bé còi cọc trong cơn co thắt của chiếc dạ dầy lép kẹp, vậy mà có những kẻ dửng mỡ vừa ăn vừa ném đi không hết? Có những bà già run rẩy tê giá vì thiếu áo xống dưới bầu trời băng tuyết lại có kẻ xé vải để nghe tiếng rách cho thỏa lỗ tai? Có kẻ ngả người trên ghế đệm, lại có kẻ lom khom bò dưới chân để mút đế giầy… Tóm lại đau đớn thống khổ của con người là bởi từ đâu?

Có phải tự con người cướp đi miếng ăn trên tay con người, tự con người tróc nã con người, tự con người đốt phá hang ổ của con người, tự con người tàn sát con người, tự con người thí nghiệm con người, tự con người bạc tình, hắt hủi và nô lệ hóa con người? Còn ai khác nữa nếu không phải con người là thủ phạm của tất cả những hành vi đó. Còn Thượng Đế, Ngài liệu có mặt trong cuộc chơi sỉ nhục, đọa đầy và hành hạ lẫn nhau của chúng ta chăng? Không! Con người đừng lẩn trốn trách nhiệm của mình bằng cách trút tất cả tội lỗi xấu xa của nó vào Đấng vắng mặt. Thượng Đế, Ngài vẫn khai hương cho quả ngọt đầy mặt đất, sản vật vẫn sinh sôi mùa tiếp mùa khắp trần gian, chỉ có con người thừa thãi đã đã cướp đi trên tay của kẻ yếu ớt, non trẻ hay già cả hơn mình. Đừng đổ cho Thiên Chúa, con người là bản cáo trạng đang hiện diện của nó trước tòa án công minh của lịch sử. Và chẳng có ai khác ngoài nó phải biện chính rằng: nó có xứng đáng làm người! Pascal nói: “Không có tín ngưỡng Cơ Đốc, các người sẽ đối với chính các người cũng như thiên nhiên và lịch sử, một quái vật và một hỗn loạn.”

Linh hồn là một trật tự hữu ích cho mọi vật thể, không có nó thế giới chỉ còn là đống vật thể lộn xộn, hoang tàn và đổ nát. Con người chứa trong thân xác một bản năng lý thể rất mạnh, bản năng đó luôn có xu hướng kéo tụt con người thần thánh xuống con người thú vật, bởi lẽ leo lên cao thì gian truân và mệt nhọc mà đi xuống thì nhàn nhã hơn nhiều, chính vì thế mà con người nhiều lúc quá mệt mỏi trong bổn phận tiến bộ của mình (bổn phận có bao giờ là cuộc nghỉ ngơi), nó tụt xuống nghỉ, muốn làm điều đó nó phải dè bỉu sứ mệnh leo lên cao cả của tâm linh, nó sẽ bảo: hỡi tâm linh lúc nào ngươi cũng lao lên như thế, hoài sức, có được gì đâu? Còn ta, ta muốn tụt xuống nằm dài trên bãi cỏ để vui thú với cuộc đời. Và khi con người dè bỉu tâm linh, tức là nó dè bỉu cái đích siêu việt mà tâm linh cứ nhắm đến trên đường đi: Thượng Đế.

Chúng ta hãy nhìn lịch sử, đế quốc La Mã, kẻ đã gửi những đội quân hùng mạnh đi khắp toàn cầu vơ vét nhặt nhạnh tất cả các sản vật của trần gian đã tàn sát thảm khốc những tông đồ và tín đồ Ki-tô giáo vì cho rằng tâm linh cũng như Thượng Đế không tiện cho những cơn gào rú khoái lạc của thân xác, nhưng oái oăm thay đế quốc La Mã đã không cứu vãn được cuộc suy tàn của mình bằng những đại tiệc hoan hỉ của thân xác, nó đã chết nghỉm trong trong ánh sáng linh thánh của những linh hồn Ki-tô giáo. Còn Trung Hoa, một dân tộc trong nhiều thế kỷ xây dựng và củng cố học thuyết duy quân, duy sinh, và binh pháp đã trở nên một ngôi nhà toách hoác khả nhiễm đến vong thân như thế nào trước làn gió Phật giáo từ Ấn Độc hiu hắt thổi sang. Marcel nói:

“Không tin mà thiếu lòng tin là một thất vọng tuyệt đối.”

Một con người khi trống rỗng tuyệt đối trong sự nghiệp xây dựng vai trò của tâm linh thì sẽ trở nên miếng mồi khả nhiễm cho tất cả các làn gió độc, những đám côn trùng, bởi lẽ chính nó không có khả năng tự thủ. Chính vì vai trò thiết yếu của tâm linh, nên sau khi cố công bài trừ Thượng Đế, Nietzsche thú nhận: “Dù đả phá đạo Ki-tô, tôi vẫn không quên rằng đời sống tinh thần của mình đã rút ở đó nhiều kinh nghiệm quí giá. Tại thâm tâm tôi hy vọng chẳng bao giờ khó chịu khi đối mặt với nó.”

Chúng ta hãy thử nghe cái ý tưởng rất khách quan sau đây của nhà bác học Pasteur: “Khoa học nông cạn có khi làm xa Chúa, nhưng khoa học rộng lớn lại đưa về cùng Đức Chúa Trời.”

17. TRỞ LẠI THẾ GIAN LUÔN CÒN THƯỢNG ĐẾ

Đó là thực tại, con người có thể khước từ tâm linh trên nẻo đường chông gai - chẳng vật phẩm đi tìm Thượng Đế, nhưng con người không thể phủ bác được việc: tâm linh có. Và sau khi thỏa mãn những đại tiệc của thân xác con người vỡ mộng rằng: “Con người không thể thỏa mãn trong sinh lý cũng như không thể tìm sự yên tĩnh tuyệt đối trong tâm lý” ( Deter Wurst ).

Nó thấy tâm lý và sinh lý không thể thỏa mãn cho hạnh phúc vô biên và vĩnh cửu của nó, và hơn nữa hưởng lạc không phải là sứ mệnh của nó, nó đứng dậy đi tìm chân lý siêu việt: đó là Thượng Đế. Bởi vậy sau cơn dè bỉu tâm linh để đánh thó hoặc biện hộ cho đời sống bản năng của mình, con người lại muốn tìm đến đời sống linh hồn. Chẳng có gì lù lù như thân xác, nhưng cũng chẳng có gì thôi thúc trăn trở như tâm linh, nhưng tâm linh luôn vắng mặt đó là điều kiện bất lợi của tâm linh khiến thể xác cứ la lối về hình ảnh khiếm diện của tâm linh mỗi khi nó muốn lờ tít đi để thủ lợi, song khi vắng bóng tâm linh, thể xác trở nên ù lỳ trơ trẽn, nó liền van nài tâm linh: hỡi tâm linh anh hãy trở lại dẫn dắt tôi đi, mặc dù anh vẫn dẫn tôi đến các bến bờ vu vơ chẳng có lấy một diện mạo, nhưng nhờ anh tôi được dẫm gót trên cuộc hành trình, đối với tôi chỉ thế là quá đủ rồi, được dẫm gót trên cuộc hành trình.

Và tâm linh đã trở lại cái diện mạo vô thưởng vô phạt của nó, nhưng chỉ có kẻ bất cần như tâm linh mới trở nên người bạn vô tư bao dung độ lượng. Voltaire, một người chống Chúa ráo riết và triệt để trong suốt cuộc đời, cuối cùng đã phải kêu lên: “Phải mù mới không lóa mắt bởi cảnh vật… phải khờ dại mới không nhận được tác giả… phải điên mới không thờ Ngài” (Có Đức Chúa Trời chăng? Tr.67 ).

Thượng Đế là thách thức của loài người trong suốt tấn tuồng chìm nổi của lịch sử. Con người theo gót Ngài, con người đóng đinh Ngài trên thánh giá, rồi con người lại xây đền cho Ngài, rồi con người lại hắt hủi, phỉ báng, đả phá, bài trừ Ngài, rồi chính con người lại dựng lại đền thờ của Ngài bằng một niềm thành tín đã tan hoang. Thượng Đế là một thách đố của con người, song ngược lại con người cũng không tránh khỏi là thách đố của Thượng Đế. Con người ra sao, văn hóa của nó thế nào thì Thượng Đế của nó như thế ấy.

Con người không chỉ dựng xong đền thánh là đã làm xong cái việc xây cất nơi cư trú cho linh hồn. Cũng không phải nó nguệch ngoạc làm dấu thánh giá là Thiên Chúa sẽ hạ xuống an bài cho nó. Không! Thiên Chúa phải là bầu trời khát vọng luôn luôn biến đổi từ ánh dương sáng láng buổi bình minh đến những tia nắng cuối chiều u hoài hùng vĩ cho tâm linh khát khao sáng tạo của con người. Nghĩa là Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa cho con người khi mà nó day dứt khôn nguôi trong suy tưởng và sự nghiệp làm người. Thiên Chúa sẽ chết khô héo khi mà linh hồn định ngừng nghỉ bằng cuộc an thân nơi tượng đài Thiên Chúa. Jasper nói: “Những người vô thần có khi lại gần lý tưởng hữu thần hơn là những người mang bộ áo hữu thần.”

Thượng Đế có hay không? Không hữu ích bằng việc chúng ta nhân danh Ngài để nhắm tới cứu cánh cao cả siêu việt làm người, và để sống với lý tưởng làm người đang thăng thiên về siêu việt, Maurice Barres: “Tôi không phán đoán chân lý tôn giáo, tôi chỉ nhận định rằng những chân lý ấy liên hệ đến sự phát triển của tâm hồn tôi.”

Thiên Chúa? Ngài là cõi hướng tới để bồi bổ tâm hồn. Ngài cũng là cố hương bao dung trở về của tâm linh. Chúng ta hãy chia sẻ tình cảm với Renan một con người đại vô thần trên giường bệnh: “Ôi Thiên Chúa của tuổi xuân tôi, tôi luôn luôn hy vọng trở về với Ngài… có lẽ tôi sẽ trở về với Ngài khiêm tốn và bại trận… ôi Thiên Chúa của tuổi xuân tôi! Biết đâu Ngài sẽ là Thiên Chúa của tôi trên giường hấp hối.”

Thượng Đế nếu Ngài không là gì cả thì Ngài cũng là tín điều của con người. Mà hủy bỏ tín điều là hữu ích hay gây tai hại? Kant nói:

“Trong khi hạn chế nhận thức, tôi phải tạo một chỗ đứng cho tín ngưỡng.”

Trong tác phẩm “Zarathustra đã nói như thế” của Nietzsche có đoạn: sau những lời thống thiết của Zarathustra về bài trừ tín điều Thượng Đế để lên ngôi con người, những tín đồ của ông như đã ngộ ra sứ mệnh tự lên ngôi Thượng Đế của mình. Ấy vậy mà thoáng một cái khi Zarathustra bỏ ra cửa hang, họ bèn đặt một con lừa lên chỗ cao nhất để tụng thờ. Khi bị Zarathustra tra hỏi, họ trả lời: thà cầu nguyện con lừa còn hơn chẳng có gì để mà cầu nguyện. Tại sao vậy? Có phải tự thẳm sâu tâm linh con người nhận biết rằng chính cái hữu hạn của nó không thể lên ngôi Thượng Đế vô hạn, và nó buộc phải thờ con lừa với nhã ý rằng: thà dùng con lừa như một tín hiệu, một ý niệm cho cõi vô hạn, còn hơn chính nó phải bành trướng ra cõi vô hạn bằng một ảo tưởng đánh thó và ngụy tín.

Con người là tự do bởi vậy nó toàn quyền chấp nhận hay phủ bác Thượng Đế. Chúng ta hãy nghe lời tha thiết của Nietzsche khi Chúa đã bị ông đóng đanh lần thứ hai: “Từ khi không có Thượng Đế nữa thì nỗi cô độc càng trở nên không chịu nổi.”

Tại sao vậy? Có phải rằng khi con người chối bỏ tín điều của mình là nó bãi miễn quyền sống của linh hồn - người bạn lúc nào cũng tha thiết như hình với bóng cùng nỗi cô đơn hiu quạnh của nó. Và khi linh hồn - người bạn sát cánh cuối cùng đã ra đi, thì nỗi cô độc trở nên thống khổ buốt giá không thể nào chịu được. Tín điều là một thực tại! Nó là một cấu thành tất yếu trong linh hồn chúng ta. Và có ngớ ngẩn không khi cố chấp bãi bỏ tín điều của mình? “Những kẻ khước từ tín điều là những kẻ mù lòa. Trái tim họ gắn xi cứng lại. Nỗi đau đớn sẽ hành hạ kẻ giả nhân, nó tự lừa dối mình và rồi sẽ lường gạt người khác” (‘Kinh Koran’, tr.16 ).

Để kết thúc chương này, tôi xin mở ra một con đường vô hạn: Con người tự do! Nó toàn quyền xây lên Thượng Đế hay phản bác Thượng Đế.

Song chúng ta chẳng có cách chi để có thể làm cho Thượng Đế phải hiện diện lên trong phòng thí nghiệm, bởi mọi phòng thí nghiệm đều thiển cận trước Thượng Đế vô hạn. Vấn đề Thượng Đế là vấn đề siêu việt, bạn có thể ngẫm ra Thượng Đế bằng nẻo đường thường nghiệm không? Chắc chúng ta chỉ có một con đường thâu hái hình ảnh của Thượng Đế, đó là con đường siêu nghiệm.

Siêu nghiệm là gì? Đó có phải là ngả đi của tâm linh! Nếu đúng như vậy, bạn hãy để cho linh hồn bạn đi hết con đường tâm linh của nó!

Hãy để linh hồn tự do phóng đi trên đôi cánh siêu việt của mình!

Thượng Đế là ai? (phần 2)
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.